Chào mừng

Chào mừng quý vị đến trang Blog của chúng tôi. Công ty Phần mềm Viên Phong chuyên viết phần mềm để xây dựng phim 3D. Sản phẩm thương mại là phần mềm xem phim định dạng riêng do công ty tạo ra.
Tiêu chí của chúng tôi là: Góp phần phát dương văn hiến Việt trong tiến trình dựng và giữ nước. Kính mong quý học giả, độc giả cùng chúng tôi thực hiện.

Thứ Sáu, ngày 08 tháng 4 năm 2011

THỬ NGẪM VỀ QUAN NIỆM “DĨ HÒA VI QUÝ”

Tác giả: Mai Thị Thơm
Mail: maithomnl@gmail.com


“Dĩ hòa vi quý” là một cụm từ thuộc cấu trúc tiếng Hán “dĩ… vi”, có thể dịch nghĩa là “lấy… làm”, hoặc “coi… là”. Thí dụ “dĩ thực vi tiên” (hoặc “dĩ thực vi thiên”), dịch nghĩa là “coi cái ăn là trước hết” (hoặc “coi cái ăn là trời”), hoặc như “dĩ lân vi hác”, có nghĩa là “lấy nước láng giềng làm hố chứa nước”, thường ví việc đẩy tai họa cho người khác, gieo vạ cho nước láng giềng… Thế nhưng cụm từ “dĩ hòa vi quý” này lại hoàn toàn vắng bóng trong các từ điển tiếng Hán cổ đại hoặc hiện đại như Tân tu Khang Hy tự điển, Hiện đại Hán ngữ từ điển, Quốc ngữ hoạt dụng từ điển…, hoặc từ điển Hán Việt của ta như Hán Việt tự điển của Thừu Chửu, Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, Thành ngữ Hán Việt của Ông Văn Tùng… Và cụm từ này chỉ có trong các từ điển của tiếng Việt như Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên (NXB Văn hóa Thông Tin), với ý nghĩa được giải thích là “Xuề xòa, né tránh sự va chạm, phê bình nhau, cốt để cho yên chuyện, cho không khí hòa thuận vui vẻ” (tr 534), hoặc Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (NXB Đà Nẵng) với ý nghĩa “(thái độ) Coi sự hòa thuận, êm thấm là quý hơn cả, có thể từ đó sinh ra xuê xoa, không phân biệt phải trái” (tr 247). Rõ ràng, đây là một cụm từ thuộc cấu trúc tiếng Hán, thế nhưng lại chỉ được sử dụng trong tiếng Việt, và với một ý nghĩa không tốt đẹp gì. Trong khi đó quan niệm “hòa” là một quan niệm đẹp trong Nho gia, cũng như Phật gia thuộc nền văn hóa phương Đông. Chính vì hiện tượng này, chúng tôi thử đi tìm nguồn gốc của cụm từ “dĩ hòa vi quý” cũng như một vài ý nghĩa của nó đã được sử dụng trong hai hệ tư tưởng trên.

I. Quan niệm “hòa” trong Nho gia

Trong Nho gia, khái niệm “hòa” ban đầu thường đi với khái niệm “trung hòa”, mà “trung hòa” lại là sự phát triển của khái niệm “trung” trong “trung đức” (Thượng thư. Tửu cáo) hoặc “trung chính” (Thượng thư. Lã hình) hoặc “trung” trong Chu dịch (hào trung trong các quẻ). Thời Xuân Thu, khái niệm “hòa” được phát triển mạnh dần, như Án Anh đã nêu “năm vị điều hòa thành canh ngon, năm sắc hòa hợp thành màu sắc đẹp, năm thanh tương hòa thành nhạc hay, người quân tử nghe thấy thì tâm bình đức hòa” (Tả truyện. Chiêu công nhị thập niên).

Đến Khổng Tử, quan niệm “hòa” này được phát triển rộng hơn trong nhiều lĩnh vực như triết học, đạo đức, chính trị, nghệ thuật…, và có nghĩa là sự điều hòa, thống nhất, cân đối giữa các mặt, không thái quá, không bất cập. Và “hòa” ấy phải được thực thi xung quanh hai yếu tố nền tảng của Nho gia là nhân và lễ. Vì thế ông đã từng nói: “Đạo mà không thực hành được, ta đã biết rồi. Người trí thì thái quá, kẻ ngu thì bất cập; đạo mà không được sáng tỏ, ta biết rồi. Người hiền thì thái quá, kẻ bất tiếu thì bất cập”(Trung dung. Chương 4). Ông từng khen vua Thuấn là “Đại trí thay vua Thuấn! Ham học hỏi và khéo xem xét những lời cạn cợt, che giấu điều ác, phát huy điều thiện, nắm lấy hai phía đối lập, vận dụng đúng mức vào trong dân chúng” (Trung dung. Chương 6).

Cũng từ quan điểm “Quân tử hòa hợp nhưng không hùa theo, tiểu nhân thì hùa theo chứ không hòa hợp” (Luận ngữ. Tử lộ) của Khổng Tử mà Tử Hữu (Hữu Nhược) đã đưa ra mệnh đề “Lễ chi dụng, hòa vi quý” (Câu đầy đủ là: tác dụng của lễ, lấy hòa làm quý. Đạo của tiên vương đẹp ở đó. Việc lớn việc nhỏ đều ở đó mà ra. Có điều không nên biết hòa là quý rồi chỉ hòa, không tiết chế bằng lễ, thì cũng không thể làm được. Luận ngữ. Thuật nhi). Có lẽ đây chính là cội gốc của cụm từ “dĩ hòa vi quý” trên kia. Sau đây thử nêu một vài ý nghĩa của “hòa” trong các lĩnh vực của đời sống Nho gia.



1. “Hòa” trong lĩnh vực triết học

Tiết thứ ba trong Trung dung (một trong bốn bộ sách nền tảng của Nho gia: Trung dung, Đại học, Luận ngữ, Mạnh Tử, tương truyền tác giả của bộ Trung dung là Tử Tư, cháu nội của Khổng Tử, con của Khổng Lí) ghi: “Mừng, giận, buồn, vui khi chưa biểu hiện ra ngoài gọi là “trung”, biểu hiện ra mà phù hợp với quy củ gọi là “hòa”. “Trung” là gốc của thiên hạ, “hòa” là đạo lí chung trong thiên hạ. Đạt đến mức trung hòa thì trời đất được định vị, muôn vật được sinh trưởng”. Rõ ràng “hòa” ở đây không chỉ đơn giả là “hòa hợp” trong cách ứng xử thường nhật như chúng ta hiểu, mà nó là cội gốc, là đạo lí chung của con người và vạn vật. Từ sự hòa điệu đặc biệt này mà con người và vạn hữu được tồn tại và vận hành. Chu Hy đã coi “mừng, giận, buồn, vui” là “tình”, “tình” chưa biểu hiện ra ngoài là “tính”. Mà “tính” chính là lí, muôn vật đều có đủ cái lí này, và khi xử kỉ tiếp vật mà sáng suốt xem xét đúng mức hợp thời đó là tình” (Chu tử ngữ loại, quyển 62).

2. “Hòa” trong lĩnh vực chính trị

Trong lĩnh vực chính trị, quan niệm “hòa” được thể hiện trước nhất là dùng đức trị kết hợp với lễ, còn hình phạt phải dùng đúng mức “lễ nhạc hưng, nhi hình phạt trúng”. Bởi vì nếu thiên nặng về hình phạt thì dân chỉ có thể cố gắng tránh bị hình phạt nhưng không biết xấu hổ. Trong khi đó nếu dắt dẫn dân chúng bằng đức, điều tiết dân chúng bằng lễ thì dân không chỉ biết xấu hổ mà còn cảm hóa quy phục (Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ. Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách. Luận ngữ. Vi chính). Trong Tả truyện. Chiêu công nhị thập niên Khổng tử nhấn mạnh cái “hòa” của chính trị là sự điều hòa giữa khoan hậu và nghiêm mãnh: “Khoan hậu giúp cho nghiêm khắc, nghiêm khắc giúp cho khoan hậu, chính sự nhờ vậy được điều hòa”. Vì nếu quá khoan hậu thì dân nhờn không còn biết hiếu lễ, còn nếu quá nghiêm mãnh thì nền chính trị đó còn đáng sợ hơn là hổ dữ ăn thịt người, cho nên cần phải hài hòa giữa đức và lễ, hình và chính. Trong thiên Quý thị của bộ Luận ngữ, Khổng tử lại khẳng định về việc đạt mức “hòa” trong chính trị, và khi đạt đến mức hòa thì không còn sợ ít dân hay cô độc: “Khâu này từng nghe: vua chư hầu hay quan đại phu, chẳng lo ít dân mà chỉ lo không đồng đều, chẳng lo nghèo mà chỉ lo không được an ninh. Là vì hễ đồng đều thì chẳng nghèo, người hòa thì dân số không ít, có an ninh thì nước nhà không nghiêng đổ”.

3. “Hòa” trong lĩnh vực nghệ thuật

Trong thiên Bát dật của sách Luận ngữ, Khổng Tử nói về bài thơ Quan Thư trong kinh Thi rằng: “Thơ Quan thư vui mà không buông tuồng, buồn mà không đau thương”. Điều đó có nghĩa là bài thơ này đạt được mức hòa, vì vui nhưng không vui quá mức, buồn nhưng không buồn quá mức. Bài thơ Quan thư là bài thơ đầu tiên trong Thi tam bách (ba trăm bài kinh Thi. Thực ra thì nó có hơn ba trăm bài) mà Khổng Tử đích thân san định. Có lẽ những ai đã từng biết về kinh Thi thì đều thuộc lòng những câu: “Quan quan thư cưu, tại hà chi châu. Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu…” và được dịch là:

Quan quan kìa tiếng thư cưu

Bên cồn hót họa cùng nhau vang dầy

U nhàn thục nữ thế này

Xứng cùng quân tử sánh vầy lứa đôi… (Tạ Quang Phát, Kinh thi, tập 1, tr 35)

Cũng theo ông Tạ Quang Phát giải thích rằng: chim Thư Cưu là loài chim nước, luôn sống có đôi nhất định mà không hề lẫn lộn. Hai con thường lội chung bên nhau mà không lả lơi. Tình ý chí thiết, gắn bó đậm đà, nhưng lúc nào cũng giữ gìn cách biệt. Và thục nữ ở đây chính là nàng Thái Tự trinh thục không thay đổi tiết tháo. Những rung cảm về tình dục không hề lẫn vào nghi dung; những ý vui riêng không hề lộ ra cử chỉ, như thế mới xứng hợp với Văn Vương bậc chí tôn, làm chủ tế tông miếu. Giải thích này càng thể hiện rõ quan điểm “hòa là phù hợp với lễ” mà chúng tôi nói trên.

4. “Hòa” trong lĩnh vực đạo đức xã hội

Nói về việc giữ mức “hòa” trong phạm vi của “lễ và nhân” trong đời sống đạo đức xã hội của Nho gia thì Khổng Tử là người mẫu mực. Có lần Nhan Uyên hỏi Khổng Tử về ý nghĩa của “nhân”, Khổng Tử trả lời: “khắc kỉ phục lễ vi nhân” (giữ mình theo lễ là nhân. Thiên Nhan uyên). Nhan Uyên muốn được giải thích chi tiết hơn, Khổng Tử bảo: “trái với lễ, đừng xem; trái với lễ, đừng nghe; trái với lễ, đừng nói; trái với lễ đừng làm”. Và trong mọi hành vi cử chỉ hàng ngày của Khổng Tử, từ trong nhà đến triều đình, từ việc ăn, ngủ, cho đến việc đi lại… tất cả đều răm rắp theo Lễ nhà Chu. Thử nêu một vài ví dụ điển hình trong thiên Hương đảng của bộ Luận ngữ: “Khổng Tử khi ở xóm làng thì rất thật thà, tựa như không biết ăn nói. Nhưng khi ra nơi tông miếu, triều đình thì nói năng lưu loát rành rọt… Ở triều đình, nói chuyện với các hạ đại phu thì ôn hòa vui vẻ; nói chuyện với các thượng đại phu thì ngay thẳng cung kính. Khi vua đến thì tỏ rõ vẻ cung kính giữ gìn, nhưng vẫn ung dung đường hoàng… Khổng Tử thích ăn cơm gạo giã trắng, ăn gỏi thái nhỏ. Cơm hẩm và thiu, cá ươn thịt bở, không ăn; màu xấu, không ăn; mùi hôi, không ăn; nấu không đúng cách, không ăn; trái mùa, không ăn; cắt không đều, không ăn; nước chấm không hợp, không ăn…; ăn không nói chuyện; ngủ không nói chuyện…; chiếu trải không ngay, không ngồi…”.

Với người được gọi là quân tử, Khổng Tử đòi hỏi mức hòa là phải “hòa hợp chứ không hùa theo” (Luận ngữ, Thiên Tử Lộ), “đoàn kết chứ không câu kết” (Luận ngữ, Thiên Vi chính) trong việc xử thế tiếp vật. Tức là người quân tử có thể hòa hợp với mọi người, đoàn kết với mọi thành phần xã hội dù là trí hay ngu, hiền hay bất tiếu, đại phu hay dân thường…, và có thể hòa mình trong nếp sống hay, trong nét văn hóa đẹp, chứ không câu kết, a dua theo thói thô tục, không chạy theo lợi nhỏ mà bỏ nhân nghĩa.

Trong cách thờ vua, giao kết bạn bè… cũng phải làm sao luôn giữ mức “hòa” mới tốt. Điều đó được Tử Du, một trong những học trò nổi tiếng về văn học của Khổng Tử khẳng định “Thờ vua mà can gián nhiều điều vụn vặt sẽ chịu nhục; với bạn bè mà khuyên can nhiều điều vụn vặt thì sẽ mất tình thân” (Luận ngữ, Thiên Lí nhân). Đối với cha mẹ không chỉ khéo léo khuyên can khi thấy cha mẹ có điều sai, mà còn phải khuyên can đúng lúc, nếu thấy không bằng lòng thì thôi…, tất cả việc phụng sự cha mẹ đều theo lễ là hợp lí, là trọn hiếu: “Khổng Tử nói: khi cha mẹ còn sống thì theo lễ mà phụng sự cha mẹ, khi cha mẹ chết thì theo lễ mà an táng, và khi cúng tế cũng phải đúng lễ” (Luận ngữ, Thiên Vi chính).

Còn đối với bản thân thì người quân tử cũng phải giữ mức hòa, nghĩa là hình thức bên ngoài và tri thức bên trong phải song hành với nhau, không được thiên lệch, vì “Chất mà trội hơn văn thì thô kệch; văn mà trội hơn chất thì phù phiếm. Văn chất hài hòa mới là quân tử” (Luận ngữ, Thiên Ung dã).

Nói về sức mạnh (cang cường) của người quân tử, Khổng Tử đã đưa ra quan điểm trung hòa như sau khi trả lời câu hỏi về sức mạnh của Tử Lộ: “Là cái cang cường của người phương Nam ư? Hay là cái cang cường của người phương Bắc? Hay là cái cang cường theo kiểu của ngươi? Dạy bảo người ta một cách khoan dung, dịu dàng, không trả thù kẻ vô đạo, đó là cái cang cường của người phương Nam, người quân tử giữ sự cang cường đó. Ngày đêm bạn cùng giáp bền gươm sắc, dẫu chết cũng không ngán, đó là cái cang cường của người phương Bắc, những kẻ chuộng võ hiếu đấu thì giữ sự cang cường này. Người quân tử sống hòa mục với mọi người, nhưng không buông trôi theo thói tục, đấy mới là sự cang cường chân chính” (Trung dung, Chương thứ mười). Hòa nhi bất lưu mới là sức mạnh chân thật của người quân tử!



II. Quan niệm “hòa” trong Phật gia

Khái niệm “hòa” trong Phật giáo được thể hiện rõ nhất là ở tên gọi của Tăng già, một trong ba ngôi báu: Phật, Pháp, Tăng mà người Phật tử quay về nương tựa. Tăng già được dịch ra tiếng Hán Việt là Hòa hợp chúng, nghĩa là đoàn thể xuất gia học Phật, đã thọ giới Tỳ kheo, và phải có ít nhất bốn vị sống chung với nhau trong sự hòa kính. Theo Từ điển Phật học Hán Việt của Phân viện nghiên cứu Phật học (NXB KHXH, Hà Nội 1998, tr 507) ghi nhận: “Hòa hợp tăng, tiếng Phạn là Sangha, dịch là Hòa hợp. Hòa hợp tăng là cách dùng từ kết hợp cả Hán lẫn Phạn. Tỳ kheo từ bốn người trở lên cùng ở một nơi, cùng giữ giới luật, cùng tu hành một đạo thì gọi là Hòa hợp tăng. Nếu kẻ nào dùng thủ đoạn để chia rẻ khối hòa hợp đó thì gọi là phá hòa hợp tăng, phạm vào tội ngũ nghịch”.

Sự hòa hợp cung kính của Hòa hợp tăng được thể hiện ở sáu lĩnh vực, thường được gọi là “Lục hòa kính pháp”. Sáu phép hòa kính ấy là:

Thứ nhất, Thân hòa đồng trụ: những vị xuất gia này cùng sống chung trong một trú xứ, hòa hợp với nhau, không tranh cãi nhau, cùng nhau sách tấn trên con đường giải thoát giác ngộ.

Thứ hai, Giới hòa đồng tu: những người xuất gia được gọi là Tăng ấy cùng nhau hòa hợp giữ gìn giới luật của mình. Giới luật cho Tỳ kheo được Phật chế gồm có 250 giới đối với Tỳ kheo (Nam tu sĩ), và 348 giới đối với Tỳ kheo ni (Nữ tu sĩ).

Thứ ba, Khẩu hòa vô tránh: những người xuất gia cùng sống chung một trụ xứ, cùng thọ chung một giới luật, lời nói phải dịu dàng hòa nhã, không nói lời ác, không nói lời dối trá, không nói lời đâm thọc, không nói lời hoa mỹ thêu dệt. Tất cả những lời nói đó đều gây nên sự bất hòa hợp trong nếp sống Tăng già.

Thứ tư, Kiến hòa đồng giải: những người xuất gia học Phật này cùng hòa hợp với nhau, trao đổi cho nhau những tri thức cũng như chứng nghiệm về giáo pháp mà Phật dạy. Giáo pháp của Phật gồm có pháp Tứ đế (khổ, tập, diệt, đạo), thập nhị Nhân duyên (vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử), ba mươi bảy phẩm trợ đạo…, thường gọi chung là tám vạn bốn ngàn pháp môn, đối trị với tám vạn bốn ngàn phiền não của chúng sanh, khiến chúng sanh tùy theo căn cơ của mình mà chọn tu học một pháp môn phù hợp nào đó, để thoát khỏi sanh tử luân hồi, đạt Niết bàn giải thoát…

Thứ năm, Lợi hòa đồng quân: nghĩa là đoàn thể xuất gia học Phật này sống hòa hợp với nhau, cùng nhau phân chia những vật dụng cần thiết hàng ngày mà giới Cư sĩ tại gia cúng dường. Tùy theo sức khỏe của từng người mà những món lợi dưỡng được chia cấp phù hợp, không để xảy ra hiện tượng người được giới Cư sĩ ưu ái hơn sẽ có được nhiều lợi dưỡng hơn, người mới dự vào hàng xuất gia phải thiếu thốn…

Thứ sáu, Ý hòa đồng duyệt: Những vị xuất gia trong đoàn thể hòa hợp này không chỉ hòa hợp bằng thân, bằng miệng, bằng giới luật, qua vật dụng, kiến thức, mà còn phải hòa hợp bằng tâm ý. Một sự hòa hợp trọn vẹn cả hình thức lẫn nội dung, cả thân lẫn tâm, không có sự bằng mặt không bằng lòng.

Sự hòa hợp của Tăng chúng trong Phật giáo đòi hỏi phải đi với sự cung kính. Phải thực sự kính trọng lẫn nhau thì sự hòa hợp kia mới có giá trị chân thực.
Với vài kiến giải trên tuy chỉ là điểm qua một số giá trị của quan niệm “hòa” trong nền văn hóa phương Đông nhưng nó cũng cho thấy được phần nào thực nghĩa của cái gọi là “hòa”. Nó vốn không phải như chúng ta nghĩ là xuê xoa cho qua chuyện, cho êm thấm!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét